Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Công nghệ F1 ở Mercedes-Benz S500 Plug-in Hybrid

Với tiêu đề đơn giản “The Best”, đoạn video tập trung vào những hệ dẫn động hiệu quả của Mercedes ở F1 và S500 Plug-in Hybrid mới.

Thương hiệu ngôi sao ba cánh vừa công bố đoạn video nhấn mạnh việc chuyển đổi công nghệ F1 sang những mẫu xe đường phố.

S500 Plug-in Hybrid sử dụng động cơ tăng áp kép 3.0L V6 và một mô-tơ điện, cho tổng công suất 435 mã lực, mô-men xoắn 650 Nm. Xe có khả năng tăng tốc từ 0-100km/h trong vòng 5,2 giây, tiêu thụ trung bình 2,8 lít/100km và di chuyển tới 33km ở chế độ chạy điện

Renault sản xuất xe thương mại hạng nhẹ cho Fiat

Các dòng xe thương mại hiện tại của Renault bao gồm: Kangoo cỡ nhỏ, Trafic cỡ trung và Master cỡ lớn. Trong khi đó, các dòng sản phẩm của Fiat Professional hiện nay bao gồm: Fiorino van cỡ nhỏ, Strada pickup, Doblo compact, Scudo cỡ trung và Ducato cỡ lớn.

Renault và Fiat vừa ký một thỏa thuận, theo đó hãng xe Pháp sẽ cung cấp cho Fiat một mẫu xe thương mại hạng nhẹ được phát triển dựa trên nền tảng khung gầm của Renault hiện tại.

Hai bên cho biết về kiểu dáng của mẫu xe này sẽ do bên Fiat phát triển và sẽ có thêm "các yếu tố độc đáo và đặc biệt chuyên nghiệp của thương hiệu Fiat".

Hiện chưa có thông tin chi tiết về tên gọi cũng như kiểu dáng, tính năng vận hành của mẫu xe này. Nhưng, theo kế hoạch, mẫu xe trên sẽ được hãng xe Pháp đưa vào sản xuất bắt đầu từ quý II năm 2016.

Hợp đồng xe thương mại hạng nhẹ này là sự kết hợp đầu tiên giữa Fiat và Renault, hai trong số các nhà sản xuất ôtô lớn nhất châu Âu. Renault là nhà sản xuất bán dòng xe thương mại hạng nhẹ chạy nhất ở lục địa già trong 16 năm qua.

Vì sao môtô phân khối lớn ở Thái Lan lại phát triển?

Đối với xe máy động cơ cao hơn 500 phân khối, quá trình sản xuất phải bắt đầu tư gia công các bộ phận chính của động cơ bao gồm đầu xi-lanh và các-te.

Chính sách hỗ trợ thuế đồng thời buộc cam kết sử dụng mạng lưới công nghiệp phụ trợ khiến phân khúc sản xuất xe phân khối lớn tại Thái Lan đầy triển vọng.

Xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất tại Thái Lan. Trên khắp đất nước, đâu đâu cũng thấy xe máy. Mỗi hộ gia đình của Thái Lan thường có từ 1-2 chiếc dùng cho tất cả các thành viên, từ chạy xung quanh nơi ở đến những quãng đường dài cả trăm km. Đi học, đi làm, thăm thú bạn bè hàng xóm, xe máy đều là sự lựa chọn hàng đầu bởi tính kinh kế và tiện dụng. Loại phương tiện hai bánh này dường như trở thành thứ không thể thiếu trong mỗi gia đình.
Nền công nghiệp xe máy hình thành ở Thái Lan từ năm 1964 với thị trường khá nhỏ bé. Nhưng tốc độ phát triển nhanh khiến ngành hai bánh bùng nổ, bốn ông lớn trên thị trường hiện nay là Honda, Yamaha, Kawasaki và Suzuki. Dù không có nhiều hãng sản xuất và bán xe máy tại Thái Lan nhưng mức độ canh tranh vẫn rất gay gắt.

Thực tế, nền công nghiệp xe máy nước này đang trong giai đoạn chín muồi, do đó các hãng tìm mọi cách để chiếm thị phần, trước khi thị trường dịch chuyển sang giai đoạn suy thoái. (Bốn giai đoạn phát triển của mỗi thị trường hoặc sản phẩm là hình thành - tăng trưởng - chín muồi - suy thoái). Giống như ở Việt Nam, Honda là hãng quyền lực nhất thị trường Thái.

Theo Lucintel, hãng nghiên cứu thị trường và tư vấn quản trị toàn cầu, "thị trường chứng kiện sự tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn 2006-2011 nhưng có xu hướng giảm dần đạt mức 93,67 tỷ USD vào năm 2017". Hãng này cũng lưu ý rằng ở những nước đang phát triển "nơi xe máy là phương tiện giao thông cơ bản hứa hẹn vẫn là thị trường hấp dẫn nhất cho scooter, xe cỡ nhỏ. Sự kết hợp của các yếu tố như nhân khẩu học, kinh tế, khí hậu, môi trường ảnh hưởng quan trọng đến tốc độ phát triển của thị trường".

Chiaki Kato, chủ tịch AP Honda Thái Lan cho biết ngành công nghiệp xe máy bị ảnh hưởng nhiều bởi nền kinh tế bất ổn năm ngoái. Những biến động kinh tế bắt đầu với xuất khẩu chậm vào đầu năm do sự tăng giá của đồng baht. Sau đó, đến khủng hoảng chính trị trong nước khiến giá nông sản dao động bất thường vào cuối năm. Tất cả những yếu tố này kìm tăng trưởng kinh tế chỉ ở mức 2,8% so với 5,5% dự báo ban đầu. Lượng xe máy đăng ký mới giảm 6% về con số 2 triệu xe.

Một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng các số liệu 2013 cho thấy nền công nghiệp xe máy Thái Lan trải qua một cuộc suy thoái đáng kể do sự bất ổn chính trị trong quý 4. Thật vậy, con số giảm xuống của tổng sản lượng (2.217.625 chiếc) và tổng bán (2.004.498 chiếc) khi so sánh với các chỉ số tương đương năm 2012. Tuy nhiên, lượng xuất khẩu cho thấy tăng trưởng thực sự cho ngành công nghiệp năm 2013 khi cả CBU và CKD đều cao hơn, với 33.780 và 601.967 chiếc, tương ứng với tổng giá trị khoảng 1,58 tỷ USD.

Honda chọn Thái Lan là trung tâm sản xuất của hãng cho những mẫu xe cỡ lớn bởi nền công nghiệp phụ trợ ở đây có thể cung cấp tới 95% linh kiện, khiến mức chi phí thấp hơn nhiều khi sản xuất tại Nhật rồi xuất sang Thái. Bên cạnh đó, hãng xe Italy Ducati mới xây dựng nhà máy sản xuất xe cỡ lớn tại Thái Lan với công suất 17.000 xe mỗi năm. Ducatri Monster 795 sản xuất địa phương là một dấu hiện cho thấy nhu cầu môtô từ phương Tây tăng cao. Tương tự Ducati, hãng xe Đức BMW là một thương hiệu khác đang hoạt động ở thị trường này.

Theo dung lượng thị trường, xe máy có thể chia thành 4 loại: nhỏ (50-250 phân khối), vừa (251-750), lớn (751-1.199) và siêu lớn (1.200 trở lên). Nếu chia theo kiểu dáng cũng có 4 loại là standard (nhỏ, đơn giản, kinh tế và dễ sử dụng), hiệu suất cao (động cơ trên 251 mã lực và chủ yếu dùng cho đua), phong cách/touring/sang trọng (động cơ vừa hoặc lớn) và loại xế độ (thường động cơ lớn). Ngoài ra, cũng có thể chia thành hai loại là nhập nguyên chiếc CBU và nhập linh kiện lắp ráp CKD.


Về sản xuất, ngành công nghiệp đang phục hồi từ tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Hình ảnh tổng thể cho thấy tổng sản lượng năm 2014 (tháng một-tháng năm) ở mức 772.732 đơn vị, tăng 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Một dấu hiệu rõ ràng cho thấy nhu cầu thị trường vẫn tiếp tục tồn tại.

Trong tháng 4 năm 2014 tổng cộng 131.147 xe máy bán ra, thấp hơn 22,41 % so với 169.033 chiếc của tháng 4/2013, sụt giảm chủ yếu do xe tay ga và xe gia đình. Theo đó, doanh số bán hàng của xe tay ga, xe gia đình giảm 15,95% so với 3/2014. Tuy nhiên, tổng doanh số đến 5/2014 trong nước là 718.755 chiếc, tăng 21% so với cùng kỳ.

Phân loại theo các nhà sản xuất, Honda hiện đang dẫn đầu với doanh số 571.231 chiếc, thị phần 79,5%; tiếp theo Yamaha với doanh số 94.049 xe, thị phần 13%. Suzuki đứng thứ ba với doanh số 18.017 xe, tương đương 2.5%; tiếp theo 17.452 xe từ Kawasaki, hoặc 2,4%; và 18.006 xe khác từ các thương hiệu khác.

Tuy nhiên, xuất khẩu CBU lại tăng 18,68% so với cùng kỳ năm ngoái, từ 20.709 xe lên 24.577 xe, chủ yếu tăng bởi các thị trường Anh, Mỹ và Nhật. Ngoài ra, lượng xuất khẩu tăng 2,27% tháng 4 so với tháng 3. Ngành công nghiệp xe gắn máy dự kiến sẽ chững lại trong 2014, nhưng có sự mở rộng sản lượng vào cuối năm khi nền kinh tế tự tin phục hồi và nhu cầu người tiêu dùng tăng trở lại. Sản xuất chiếm khoảng 88% nội địa và 12% xuất khẩu.

Nhận ra sự thay đổi xu hướng liên quan tới thị hiếu khách hàng của thị trường địa phương, Ủy ban đầu tư Thái Lan hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất xe máy cỡ lớn, bằng cách miễn thuế nhập khẩu máy móc, bất kể vị trí nhà máy, và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án sản xuất động cơ. Trong trường hợp này, miễn thuế là được phép theo quy định của Ủy Ban đầu tư như sau:

Đối với xe máy động cơ trên 248 phân khối, không quá 500 phân khối phải dây chuyền đúc, dập của 4 trên 6 sản bộ phận bao gồm xi-lanh, đầu xi-lanh, các-te, trục khuỷu, trục cam và thanh truyền.

Có thể thấy, song song với việc tạo điều kiện cho các hãng sản xuất xe cỡ lớn sản xuất tại Thái Lan, Ủy ban đầu tư đòi hỏi các doanh nghiệp này phải có kế hoạch, lộ trình phù hợp trong việc sử dụng mạng lưới công ty phụ trợ địa phương.

Nissan “bay cao” nhờ vào thị trường Mỹ và Trung Quốc

"Nissan luôn hoàn thiện, đổi mới phương thức kinh doanh để tiếp tục cho ra đời những sản phẩm tốt nhất cùng với các biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng thị phần và lợi ích liên tục trong chiến lược liên minh của mình" , vị CEO này nói thêm.

Nhờ nhu cầu bùng nổ tại Trung Quốc và Mỹ, Nissan đã đạt lợi nhuận 1,2 tỷ USD trong quý đầu tiên của năm tài khóa kết thúc vào tháng 3/2015.

Theo số liệu thống kê của hãng, tính từ tháng 4 đến tháng 6/2014, Nissan đạt doanh thu 24,13 tỷ USD, tăng 10,4% so với quý cùng kỳ năm ngoái. Nhờ đó, lợi nhuận của hãng tăng vọt tới 13,4%, đạt 1,2 tỷ USD.

Kết quả khả quan trên là nhờ vào nhu cầu tăng mạnh với các dòng xe của Nissan tại 2 thị trường trọng điểm Mỹ và Trung Quốc. Cụ thể, doanh số của hãng ở hai khu vực này tăng 14,1 % và 21,1% tương ứng.

CEO của Nissan, ông Carlos Ghosn nói: "Nissan tiếp tục đạt được bước tiến trong 3 tháng đầu của năm tài khóa đó là nhờ có chính sách khuyến khích người tiêu dùng đến với các sản phẩm mới, nhờ lợi ích từ việc đầu tư nhà máy gần đây, và việc cải thiện điều kiện thị trường ở Bắc Mỹ, cùng với sự kết hợp của cả 2 thị trường Trung Quốc và châu Âu".

Nissan đã bán 1,24 triệu xe trên toàn thế giới trong quý I năm tài khóa này, đạt mức tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái. Năm nay, hãng xe Nhật hy vọng đạt lợi nhuận 5,35 tỷ USD và bán được ít nhất  5,65 triệu xe.

Porsche đã bỏ phiên bản Cayenne giá rẻ

Tuy nhiên, bất chấp những sự thay đổi này, các lãnh đạo Porsche mong đợi một vài khách hàng của Cayenne sẽ chuyển sang Macan, nhưng về tổng thể không ảnh hưởng tới doanh số chung của Cayenne.

Porsche vừa bỏ bản Cayenne entry-level (bản rẻ nhất) tại thị trường Mỹ khi chuẩn bị cho màn ra mắt của model cải tiến.

Đây được xem là một bước đi trong chiến lược giá của hãng xe thể theo nước Đức bởi bản Cayenne tiêu chuẩn có giá 50.595 USD, rẻ hơn mức 50.895 USD của Macan S, mẫu crossover cỡ nhỏ mới xuất hiện tại Mỹ.

Porsche Cayenne 2015 sẽ bán ra thị trường Mỹ từ ngày 01/11 tới với 4 phiên bản. Bản thấp nhất là Cayenne Diesel với giá 62.695 USD, còn bản cao nhất là Cayenne Turbo giá 114.595 USD (bao gồm phí vận chuyển và bốc dỡ).

Porsche đã bán 18.507 xe Cayenne tại Mỹ trong năm 2013. Trong 6 tháng đầu năm nay, doanh số của Cayenne giảm 9%, đạt 8.713 xe, trong khi tổng lượng xe bán ra của Porsche ở Mỹ tăng 8%, đạt 22.918 xe.

Mặt trái của xu hướng xe sang mà giá rẻ

Steve Cannon, người đứng đầu Mercedes-Benz chi nhánh Mỹ cho biết: ông không ủng hộ xu hướng này. Bởi nói một cách dễ hiểu, điều đó sẽ ăn mòn hệ sinh thái của chính Mercedes. Khi định vị thương hiệu trước kia của Mercedes là xe sang cao cấp, chỉ tập trung vào các khách hàng giàu có, sang trọng, hãng này nghiễm nhiên được nhóm các khách hàng thượng lưu mặc định là sự lựa chọn chỉ dành cho họ. Nó cũng như một sự khẳng định không lời đẳng cấp của họ trong xã hội. Tuy nhiên bây giờ mọi thứ đã khác. Khi họ nhìn thấy quá nhiều dân trung lưu sử dụng chiếc xe với logo ngôi sao 3 cánh, điều đó đồng nghĩa với việc họ không còn mặn mà với thương hiệu này nữa.

Mùa xuân này, Irene Yaymadjian, một sinh viên vừa mới tốt nghiệp tại thành phố Studio, bang California, quyết định sẽ bán chiếc xe thể thao hiệu Mini Cooper. Cô chia sẻ: "Tôi muốn có một chiếc xe đẹp, và điều quan trọng là nó phải nâng cao địa vị của tôi”.

Vài năm trước đây, một chiếc xe mang nhãn hiệu Honda, Toyota hoặc thậm chí một chiếc xe đã qua sử dụng mang thương hiệu cao cấp đều có thể nằm trong danh sách sản phẩm tiềm năng của Yaymadjian. Tuy nhiên bây giờ mọi thứ đã khác. Yaymadjian cho rằng vào thời điểm này, nếu để lựa chọn một chiếc xe cho mình, cô thà chọn một chiếc Mercedes CLA hay Audi A3 – những chiếc xe thuộc phân khúc xe sang giá rẻ với mức giá khoảng 38.000 USD chứ nhất định không chọn những chiếc xe cao cấp hạng bình dân như Honda Accord hay Ford Fusion.

Nghe có vẻ như đây là một chiến thắng cho những nhà sản xuất như Audi, Mercedes trong việc thu hút các khách hàng trẻ, chuộng hình thức, nhưng túi tiền không được rủng rỉnh cho lắm. Dưới góc độ các nhà sản xuất, xe sang giá rẻ mặc dù không đem lại doanh số đáng kể, nhưng lại là cơ hội tốt để họ tiếp cận với một mảng lớn của thị trường.

Tuy nhiên, trong một thị trường quá nhiều nhà cung cấp như hiện nay, chính xu hướng đó đang đặt ra một nguy cơ với những thương hiệu chuyên xe sang – xe cao cấp, khi họ đang làm loãng chính mình bằng cách tham gia quá nhiều vào phân khúc giá rẻ, thay vì chỉ tập trung vào phân khúc truyền thống cao cấp.

Khoảng cách giữa các phân khúc dần xóa nhòa khi hãng xe sang giới thiệu thêm các dòng xe nhỏ, Mẫu xe nhỏ đầy đủ tùy chọn có giá thậm chí ngang với phân khúc trên một bậc. Ví như giá bán Audi A4 chỉ cao hơn 3.900 USD so với A3. Còn A6 cũng chỉ đắt hơn A3 khoảng 9.300 USD. Khoảng cách giữa "rẻ" và "không đắt lắm" trở nên thật mong manh.

Hoặc định vị cao cấp hoặc trở nên phổ biến và  rẻ tiền, mỗi sự lựa chọn đều có ưu điểm và nhược điểm. Và đó là bài toán mà các thương hiệu xe sang phải đối mặt lúc này.

Bộ sưu tập 543 xe cổ đã có chủ sở hữu mới

Trả lời báo giới, ông John Edwards, Giám đốc điều hành các hoạt động xe đặc biệt của JLR nói: "Chúng tôi rất vui mừng vì đã đạt được thỏa thuận với James Hull để bảo đảm tương lai cho bộ sưu tập rất quan trọng này của Jaguar nói riêng và ngành xe hơi của vương quốc Anh nói chung. Chúng tôi chia sẻ cùng một mục đích như James để giữ gìn sự độc đáo cho bộ sưu tập này”.

Jaguar Land Rover (JLR) vừa mua bộ sưu tập xe cổ lớn nhất của Anh từ James Hull, một nhà sưu tập xe.

Bộ sưu tập bao gồm 543 mẫu xe cổ, chủ yếu xuất xứ từ Anh quốc, hơn 130 chiếc trong số đó là mẫu Jaguar, trong đó có nhiều mẫu xe giá trị như: XK SS, C, D và E-Type.


Hầu hết xe trong bộ sưu tập đều ở trong tình trạng tốt và gây sự chú ý cho giới sành xe. JLR cho biết, hãng sẽ sử dụng những chiếc xe này để “quảng bá cho sự phát triển thương hiệu và hoạt động kinh doanh tại các thị trường hiện tại và các khu vực mới nổi". Ví dụ, sự ra mắt của Jaguar XE trên toàn cầu vào đầu tháng 9 tới sẽ là một dịp tốt cho JLR giới thiệu một số chiếc xe cổ điển mới mua.


Hiện tại, chưa có thông tin cụ thể về số tiền mà JLR đã chi để mua bộ sưu tập quý giá này, tuy nhiên James Hull cho biết mục đích chính của ông không phải là có được mức giá cao nhất mà ông mong muốn JLR đảm bảo cho tương lai của bộ sưu tập tại xứ sở sương mù và ông đặt niềm tin ở JLR.